Hóa chất điều trị bệnh ung thư

Ngày: 16-02-2011

Ung thư không phải là cǎn bệnh vô phương cứu chữa mà tỷ lệ chữa khỏi hoặc kéo dài cuộc sống còn phụ thuộc vào người bệnh được phát hiện sớm hay muộn và phương pháp điều trị. Những nǎm gần đây đã có những tiến bộ vượt bậc trong điều trị bệnh cả về phẫu thuật xạ trị cũng như thuốc trong đó phải kể đến các thuốc hóa chất mới giúp cho quá trình điều trị.

Nhóm taxane

Cấu trúc hóa học và cơ chế hoạt động có một không hai cùng hoạt tính chống được nhiều loại u đã đưa các taxane trở thành nhóm quan trọng nhất trong số các thuốc chống ung thư mới. Trong nhóm này hiện có hai dược chất là paclitaxen (taxol) và docetaxel (taxotere).

Các thuốc nhóm taxane có tác dụng gây độc thoi phân bào bằng cách làm các vi quản kết hợp lại và ổn định chúng, ngǎn chặn quá trình phân ly các hợp chất cao phân tử. Kết quả là tế bào không phân chia được rồi chết theo chương trình (apoptosis). Với cơ chế này người ta còn gọi đây là các thuốc chống vi quản (antimicrotubule agents).
Với hoạt tính chống u mạnh paclitaxel và docetaxel đã được sử dụng rộng rãi trong ung thư vú, các ung thư phụ khoa, đặc biệt là ung thư buồng trứng. Các loại ung thư khác của phổi, hệ tiết niệu, ống tiêu hóa… cũng đã được thử nghiệm. Kết quả điều trị bổ trợ sau phẫu thuật cho ung thư vú bằng phác đồ AC tiếp theo bằng paclitaxel làm giảm được 22% nguy cơ tái phát và 26% nguy cơ tử vong. Các độc tính của paclitaxel gồm rụng tóc, đau cơ và ức chế tủy xương. Docetaxel khi kết hợp với cisplatin điều trị ung thư bàng quang giai đoạn muộn cho đáp ứng toàn bộ tới 60%. Các độc tính của docetaxel gồm giảm bạch cầu hạt, giữ nước, viêm miệng.

Capecitabine (xeloda): là dạng tiền chất của 5 fluorouracil (5 FU) được bào chế để có thể chuyển hóa ở gan rồi tới khối u chuyển thành 5 FU có hoạt tính nhờ các men ở đây. Nhờ phương thức chuyển hóa như vậy mà nồng độ 5 FU ở khối u cao hơn trong huyết thanh. Hiện nay thuốc đã được áp dụng điều trị cho ung thư vú, ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu dùng capecitabine đơn thuần so với phác đồ 5 FU và leucovorin trên ung thư đại trực tràng cho thấy capecitabine có tỷ lệ đáp ứng cao hơn (23,2%) so với 5 FU + leucovorin (15,5%). Thời gian sống toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh chưa có sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm nhưng sự thuận tiện khi dùng thuốc (bằng đường uống) và độc tính ít hơn của capecitabine là các ưu điểm nổi bật của thuốc này. Các độc tính chủ yếu là hội chứng bàn tay ? bàn chân và tiêu chảy.

Gemcitabine (gemzar):
Là dẫn chất của cytosine arabinoside (Ara-C) thuộc nhóm chống chuyển hóa. Thuốc có hoạt tính mạnh hơn và phổ chống ung thư rộng hơn khi thử nghiệm trên các u đặc, mặc dù cấu trúc hóa học, chuyển hóa và cơ chế tác dụng gần tương tự Ara-C. Về cơ chế tác dụng thuốc gây độc tế bào đặc hiệu pha S (pha tổng hợp) do ức chế tổng hợp AND. Thuốc được sử dụng cho ung thư biểu mô tụy giai đoạn muộn, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ung thư vú và ung thư bàng quang. Trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ phối hợp gemcitabine với cisplatin cho tỷ lệ đáp ứng toàn bộ tới 31% trong khi dùng cisplatin đơn thuần tỷ lệ này chỉ có 9-14%. Gemcitabine đơn thuần có thể cho tỷ lệ đáp ứng 11% đối với ung thư tụy tiến triển và cải thiện triệu chứng rõ rệt. Cũng trong ung thư tụy nếu kết hợp gemcitabine với cisplatin đáp ứng hoàn toàn đạt 6% và thêm 22% đáp ứng một phần. Khi dùng đơn độc trong ung thư bàng quang gemcitabine cho tỷ lệ đáp ứng toàn bộ từ 22-28% nhưng nếu phối hợp carboplatin thuốc cho tỷ lệ đáp ứng toàn bộ 68%. Khi thử nghiệm trên ung thư biểu mô buồng trứng đã kháng với cisplatin, gemcitabine kết hợp với 5 FU và leucovorin cho tỷ lệ đáp ứng chung là 40%.

Doxorubicin dạng vi cầu mỡ (liposomal doxorubicin): Các vi cầu mỡ (liposomes) đã là chủ đề của các nghiên cứu cải thiện hiệu quả điều trị. Doxorubicin là thuốc hấp dẫn cho chủ đề này. Do được ?đóng gói? trong các bọc mỡ hình cầu nhỏ mà thuốc vào cơ tim rất ít đến các khối u được nhiều và lưu lại trong huyết thanh lâu hơn dạng tự do. Bằng cách bào chế này người ta có thể tǎng liều doxorubicin trong mỗi đợt điều trị cũng như điều trị được nhiều đợt hơn do bệnh nhân có thể chịu đựng được liều tích lũy lớn hơn.

Vinovelbine là dẫn chất bán tổng hợp đồng dạng với vinblastin thuộc nhóm vinca alcaloid. Thuốc không kháng chéo với các vinca alaloid khác. Độc tính chủ yếu của thuốc là gây ức chế tủy xương. Vinorelbine ít độc trên thần kinh hơn vincristin và vinblastin.

Các chất ức chế topoisomerase I: Camptothecin là sản phẩm tự nhiên từ cây Camptotheca acuminata có tác dụng chống u thông qua ức chế topoisomerase I, một men trong nhân tế bào có vai trò chủ chốt trong tổng hợp AND nhưng độc tính của chất này khá cao. Topotecan và sau này là irinotecan (campto) là hai dẫn chất của camptothecin cũng có hoạt tính chống u nhưng độc tính được giảm đi nhiều.


Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Bá Đức
Theo sức khỏe đời sống

Bài viết liên quan:

  1. Bản chất của bệnh ung thư là gì
  2. Người bị bệnh ung thư phải ăn đủ chất
  3. Dùng chất chống oxy hóa có thể ngừa bệnh ung thư
  4. Sa tế chứa chất gây ung thư có ở Việt Nam
  5. Phát hiện chất gây ung thư trong hạt dưa, ớt bột
Các thông tin trên website www.ungthuvn.com chỉ mang tính chất tham khảo. 
Mọi chỉ định về điều trị bệnh, sử dụng thuốc cần phải theo yêu cầu của bác sĩ chuyên khoa.